Ca khúc - nơi đó tình yêu

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

Văn hoá đọc

Ảnh ngẫu nhiên

Anh_thu_vien.jpg Z5314562500555_84e96887b5a69e4e9bd2d83a0e731fdf.jpg HOC_SINH.jpg Z5178811678948_9e00b25be94167371062859b77f85017_1_11zon.jpg Z5178811724591_d85756eb77e9d41fd44f9fb757b547a2.jpg

LIÊN KẾT LIÊN THƯ VIỆN

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS THỊ TRẤN NHAM BIỀN SỐ 1, BẮC GIANG

TRƯỜNG THCS TT NHAM BIỀN SỐ 1 - LỄ RA QUÂN CÁC ĐỘI TUYỂN HỌC SINH GIỎI HUYỆN YÊN DŨNG THAM DỰ KÌ THI HỌC SINH GIỎI VĂN HOÁ CẤP TỈNH- NĂM HỌC 2023-2024

TRÊN SA MẠC VÀ TRONG RỪNG THẲM

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Giáp Thị Nga (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:12' 02-04-2024
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
TRÊN SA MẠC VÀ TRONG RỪNG THẲM
Henryk Sienkiewicz
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

Giới Thiệu
Henryk Sienkiewicz (1846 - 1916) là nhà văn xuất sắc của Ba Lan thời cận đại, một trong những
văn hào lớn của thế giới (ông được tặng giải Noben về văn học năm 1905). Các tác phẩm của ông tràn
đầy tinh thần dân tộc, tình yêu chính nghĩa và công lí, lòng nhân đạo, lên án mọi thứ bất công, mọi hình
thức áp bức bóc lột con người.
H
Ở Ba Lan, các tác phẩm của Sienkiewicz là sách gối đầu giường của nhiều thế hệ. Trong những
năm phát xít Hítle chiếm đóng Ba Lan, chúng ra lệnh cấm đọc, cấm tàng trữ sách của Sienkievicz, tịch
thu và đốt các tác phẩm của văn hào, nhưng nhân dân Ba Lan vẫn bí mật truyền tay nhau đọc, dù bao
người vì thế phải bị treo cổ hoặc đưa vào trại tập trung.
Trên văn đàn thế giới, các truyện ngắn, truyệ n vừa cùng những tiểu thuyết lịch sử rất xuất sắc của
ông như: Bằng lửa và gươm, Trận Hồng thủy, Ngài Vôlôđixki, Quo vadis, Hiệp sĩ thánh chiến... được
xếp vào hàng các tác phẩm kinh điển, được dịch ra trên bốn mươi thứ tiếng, nhiều lần được dựng
thành kịch, quay thành phim và rất được ưa chuộng.
Trong di sản văn học đồ sộ với hơn 60 tập sách của H.Sienkievicz, tiểu thuyết chiếm một vị trí đặc
biệt: đó là tác phẩm duy nhất mà văn hào viết tặng cho bạn đọc thiếu nhi. Tác phẩm ra đời năm 1911,
trong thời kì “hồi xuân” của văn hào sau hơn 10 năm bệnh tật. Ngay sau khi xuất bản, tác phẩ m đã
được hoan nghênh nhiệt liệt, được tái bản ngay và được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài. Và trong
suốt gần một thế kỉ qua, nhiều thế hệ thanh niên đã ngưỡng mộ và học tập Xtas, yêu mến tri kỉ với Nen,
vui cười với sự láu lỉnh của Cali.
Tác phẩm đã gợi nên khát vọng sống cao đẹp, khát vọng đi tới những chân trời xa, thực hiện những
kì tích phi thường, vượt mọi hiểm nguy, chiến thắng mọi bất công tàn ác.

Tuy nhiên, trong sự phản ánh và đánh giá lịch sử của nhà văn có nhiều điểm cần được xem xét lại.
Điều cần lưu ý hơn cả có lẽ là cách nhìn nhận của nhà văn về phong trào khởi nghĩa của các tín đồ Hồi
giáo Xuđan dưới sự lãnh đạocủa Mahơđi. Để hiểu rõ vấn đề này, ta cần đi ngược dòng lịch sử vùng
Đông Phi, nhất là lịch sử Xuđan.
H. Sienkievicz đã không nhìn nhận được bản chất và ý nghĩa tích cực của cuộc khởi nghĩa, đánh
giá phong trào cũng như bản thân các lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa một cách thiếu thiện cảm.
Nhưng điều đó không cản trở bạn đọc yêu thích cuốn sách, bởi vì là một tác phẩm văn học rất hấp
dẫn, và giá trị của món quà mà văn hào tặng cho các bạn trẻ (và không chỉ cho các bạn trẻ) vẫn mãi
mãi là tuyệt diệu!

TRÊN SA MẠC VÀ TRONG RỪNG THẲM
Henryk Sienkiewicz
Chương 1:
-E m biết không, Nen, - Xtas Tarcôpxki nói với cô bạn gái người Anh bé nhỏ của mình. - Hôm qua,
cảnh sát đã tới bắt vợ viên quản lí Xmainơ cùng với ba đứa con của mụ ta, chính cái mụ Phátma đã
mấy lần tới văn phòng của ba anh và ba em đấy.
-E
Còn Nen, cô bé đẹp như một bức tranh, thì ngước cặp mắt màu lục nhạt của mình lên nhìn Xtas và
hỏi vẻ vừa ngạc nhiên vừa sợ hãi:
- Thế họ bắt bà ta bỏ tù à, anh?
- Không, nhưng họ không cho phép mụ ta đi khỏi Xuđan.
Đồng thời có một nhân viên tới đây để canh không cho mụ ta rời một bước khỏi Port Xaiđơ.
- Sao vậy hả anh?
Xtas, cậu thiếu niên vừa hết tuổi mười bốn, tuy rất yêu mến cô bạn gái tám tuổi của mình, song vẫn
xem đó chỉ là một đứa bé non nớt, liền nói với vẻ mặt rất kiêu:
- Khi nào lớn như anh, em sẽ biết không những chỉ mọi chuyện xảy ra dọc kênh đào này, từ Port
Xaiđơ đến Xuê(1) mà còn cả trên toàn bộ đất Ai Cập nữa. Thế em không biết gì về Mahơđi hay sao?
- Em nghe nói là ông ta xấu xí và không ngoan. Cậu bé mỉm cười thương hại.
- Hắn ta có xấu xí hay không thì anh không biết. Những người dân Xuđan thì quả quyết rằng hắn ta
đẹp tuyệt vời. Nhưng bảo kẻ đã giết hại ngần ấy ngườ i là “không ngoan” thì chỉ có thể là một cô nhóc
con tám tuổi mặc váy ngắn mà thôi. Đấy, chỉ ngắn tới đầu gối là cùng.
- Ba em bảo thế, ba em biết giỏi nhất.
- Ba bảo em thế vì nói cách khác thì em không hiểu nổi. Giá nói với anh thì ba em đã chẳng bảo
thế. Mahơđi còn tệ hơn cả một bầy cá sấu. Hiểu chưa? “Không ngoan!” Hay thật! Nói như với bọn trẻ
con mới đẻ ấy.

Song chợt nhìn thấy vẻ mặt xịu đi của cô bé, Xtas liền nín bặt, sau đó nói tiếp:
- Nen, em biết đấy, anh đâu muốn nặng lời với em. Sẽ đến lúc cả em nữa cũng sẽ mười bốn tuổi.
Anh cam đoan với em như thế.
- Thế cơ! - Cô bé đáp với cái nhìn đầy lo lắng. Nhưng nếu như trước đó Mahơđi tiến được vào
Port Xaiđơ và ăn thịt em mất thì sao nào?
- Mahơđi không phải là kẻ ăn thịt người, nên hắn không ăn thịt dân chúng mà chỉ giết hại họ thôi.
Hắn cũng chẳng tiến nổi tới Port Xaiđơ, mà nếu như hắn có tiến vào được và muốn giết em, thì trước
hết hắn phải đấu với anh đã.
Lời tuyên bố đó cùng với tiếng không khí được hít mạnh vào mũi Xtas không hứa hẹn một điều gì
tốt lành cho Mahơđi, đã khiến Nen yên tâm về sự an toàn của bản thân mình.
- Em biết, - cô bé nói, - anh chẳng chịu nộp em đâu, phải không? Thế nhưng tại sao người ta lại
không cho bà Phátma rời khỏi Port Xaiđơ?
- Bởi vì mụ ta là em họ của Mahơđi. Chồng mụ ta, gã Xmainơ hứa với chính phủ Ai Cập ở Cairô
rằng y sẽ tới Xuđan, nơi Mahơđi đang ở, để xin tự do cho tất cả những người Âu bị rơi vào tay hắn.
- Cái ông Xmainơ ấy là người tốt hả anh?
- Khoan đã nào. Ba em và ba anh, những người hiểu rõ Xmainơ, hoàn toàn không tin hắn ta chút
nào, và đã khuyên pasa(2) Nubarơ chớ có tin y. Nhưng chính phủ vẫn đồng ý cử Xmainơ đi, và thế là
đã nửa năm nay Xmainơ ở tịt chỗ Mahơđi. Tù binh không những không được thả về mà lại có tin từ
Khactum cho biết rằng, bọn Mahơđi đối xử với họ ngày một tàn tệ hơn, còn lão Xmainơ thì sau khi
cuỗm tiền của chính phủ đã phản bội. Hắn hoàn toàn ngả hẳn về phía Mahơđi và đã được phong tước
emia2. Người ta còn nói rằng, trong trận đánh khủng khiếp mà tướng Hicxơ bị tử trận, chính Xmainơ
đã chỉ huy pháo binh của quân Mahơđi, và hình như chính hắn là kẻ đã dạy cho bọn Mahơđi cách sử
dụng đạ i bác, loại vũ khí mà trước đó, vốn là những kẻ mọi rợ, chúng hoàn toàn không biết đến. Bây
giờ, lão Xmainơ đang muốn đưa vợ con thoát khỏi Ai Cập, cho nên khi mụ Phátma, con người ngay từ
đầu hẳn đã biết mọi chuyện mà Xmainơ làm, muốn bí mật chuồn khỏi Port Xaiđơ, thì chính phủ liền
bắt giữ mụ ta cùng các con mụ lạ i.
- Nhưng chính phủ sẽ được gì ở bà Phátma và lũ con của ba ta hở anh?
- Chính phủ sẽ nói với Mahơđi: “Hãy trả cho chúng ta các tù binh của ngươi, chúng ta sẽ trả mụ
Phátma cho ngươi...” Câu chuyện tạm bị gián đoạn vì lúc này Xtas chợt chú ý đến những con chim
đang bay từ phía Êchtum Om Pharagơ về phía hồ Mendalê. Chúng bay khá thấp, trong bầu không khí

trong vắt trông rõ mấy con bồ nông với chiếc cổ cong gập lại sát lưng đang khoan thai vỗ những đôi
cánh khổng lồ. Xtas dõi theo đường bay của chúng, em ngẩng đầu lên, chạy mươi bước dọc theo bờ
kênh, vừa chạy vừa vung vẩy đôi tay.
- Nhìn kìa anh, có cả chim hồng hạc đang bay nữa kìa! - Nen bỗng kêu lên.
Xtas đứng sững ngay lại, vì quả thực phía sau đàn bồ nông, nhưng cao hơn chúng một tí, có thể
trông thấy hai đoá hoa lớn màu hồng và màu đỏ thắm dường như đang treo lơ lửng trên nền trời xanh
thẳm.
- Hồng hạc! Chim hồng hạc!
- Chiều chiều chúng nó thường bay về tổ của chúng trên vùng đảo đấy, - cậu bé thốt lên. - Ôi, giá
mà anh có khẩu súng nhỉ.
- Anh bắn chúng nó làm gì cơ?
- Phụ nữ không thể hiểu được những chuyện ấy đâu. Nhưng thôi, chúng mình đi tiếp đi, có thể sẽ
trông thấy chúng nhiều hơn nữa chăng.
Vừa nói em vừa dắt tay cô bé; cả hai đi về phía bến tầu đầu tiên trên kênh đào tiếp sau cảng
PortXaiđơ. Theo sau lưng chúng là bà Đina, một phụ nữ da đen, ngày trước từng là nhũ mẫu của cô bé
Nen. Họ đi dọc bờ đập ngăn nước hồ Mendalê với kênh đào, trong kênh lúc ấy đang có một chiếc tầu
thuỷ lớn chạy bằng hơi nước của Anh được hoa tiêu dẫn đi. Chiều xuống. Mặt trời hãy còn cao nhưng
đã ngả về phía hồ. Làn nước lợ mằn mặn của hồ loang loáng ánh sáng và lung linh phản chiếu muôn
sắc cầu vồng. Bên bờ phía Ả Rập, trải dài đến hút tầm mắt là sa mạc trơ trụi, câm lặng, chết chóc, đầy
vẻ hằn thù. Giữa bầu trời thuỷ tinh dường như chết cứng và cái mênh mông vô bờ bến của mặt cát gợn
sóng không hề có một dấu hiệu gì của sự sống. Trong lúc trên mặt kênh đào cuộc sống đang sôi sục,
thuyền bè tấp nập, vang rộn tiếng còi tầu, và trên hồ Mendalê hàng đàn hải âu và vịt trời đang nhộn
nhịp đảo chao trong ánh mặt trời, thì phía bên kia, phía bờ Ả Rập lại giống hệt như xứ sở của cái chết.
Chỉ khi mặt trời xuống thấp dần và ngày càng ngả sang màu đỏ thì mặt cát mới dần dần nhuốm màu tim
tím, màu tím của những mầm cây non trong các khu rừng Ba Lan về mùa thu.
Trong khi đi về phía bến tầu, bọn trẻ còn trông thấy vài con chim hồng hạc nữa mà chúng vui sướng
ngắm không chán mắt.
Sau đó, bà Đina nói rằng đã đến lúc phải quay về nhà. Ở Ai Cập ban ngày thường nóng nực (thậm
chí cả trong mùa đông), nhưng ban đêm lại rất lạnh, mà sức khoẻ của Nen thì lại đòi hỏi phải hết sức
giữ gìn, nên ông Rôlixơn, cha của cô bé, không cho phép cô ở lại trên bờ nước sau khi mặt trời lặn.

Họ bèn quay trở về thành phố.
Vila của ông Rôlixơn nằm ngay rìa thành phố, gần bờ kênh đào.
Khi mặt trời lặn xuống biển, họ đã về tới nhà. Một lát sau, kĩ sư Tarcôpxki, cha của Xtas, được
mời đến dự bữa cơm, cũng tới, và thế là cả nhà, cùng với cô Oliviơ, cô gia sư người Pháp của Nen,
ngồi vào bàn ăn.
Đã từ nhiều năm nay, ông Rôlixơn, một trong các giám đốc của công ti kênh đào Xuê, và ông
Vlađixlap Tarcôpxki, kĩ sư trưởng của công ti này, kết thân với nhau. Cả hai đều goá vợ: bà
Tarcôpxca, vốn dòng dõi người Pháp, đã mất ngay từ khi Xtas vừa chào đời, nghĩa là hơn mười ba
năm về trước, còn mẹ của Nen thì qua đời vì bệnh phổi tại Hêluankhi cô bé mới lên ba. Ở Port Xaiđơ,
hai ông bố goá vợ sống trong hai ngôi nhà cạnh nhau, và do công việc của mình, ngày nào họ cũ ng gặp
nhau. Nỗi bất hạnh chung khiến họ xích lại gần nhau hơn và làm cho tình bạn vốn có càng thêm bền
chặt.
Ông Rôlixơn yêu Xtas như con đẻ, còn ông Tarcôpxki thì sẵn sàng nhảy vào lửa và lao xuống nước
vì cô bé Nen. Sau khi kết thú c công việc hàng ngày, phút nghỉ ngơi thú vị nhất đối với họ là được trò
chuyện về bọn trẻ, về việc giáo dục và về tương lai của chúng. Trong những câu chuyện đó, ông
Rôlixơn thường khen ngợi năng khiếu, nghị lực và lò ng can đảm của Xtas, còn ông Tarcôpxki thì lại
say sưa với khuôn mặt thiên thần ngọt ngào của Nen. Và cả hai điều ấy đều là sự thật. Tuy hơi kiêu
căng và hơi khoác lác một chút, nhưng Xtas học rất giỏi và các thầy giáo ở trường học dạy tiếng Anh
tại Port Xaiđơ, nơi cậu bé học, đều công nhận rằng em có những năng khiếu khác thường. Nếu nói về
lòng dũng cảm và tính tháo vát thì em được thừa hưởng ở người cha, vì ông Tarcôpxki có được những
đức tính ấy ở trình độ cao, và cũng chính nhờ có chúng mà ông đã vươn tới cương vị cao cấp hiện tại.
Năm 1863(4), ông đã chiến đấu suốt mười một tháng liền không ngơi nghỉ, sau đó ông bị thương, bị
bắ t, rồi bị đầy đi Xibia, ông chạy trốn về Ba Lan rồi thoát ra nước ngoài. Trước khi tham gia khởi
nghĩa, ông đã tốt nghiệp kĩ sư, nhưng sau đó, ông còn dành thêm một năm nữa để nghiên cứu thuỷ lực
học. Rồi sau đó, ông tìm được việc làm ở kênh đào, và chỉ trong vài năm, khi người ta đã đánh giá
được sự am tường công việc, nghị lực cùng tính cần cù của ông, ông được nhậ n cương vị kĩ sư trưởng
cao quý ấy.
Xtas được sinh ra, nuôi dưỡng và lớn đến năm mười bốn tuổi ngay tại hải cảng Port Xaiđơ trên
kênh đào, nên các kĩ sư, bạn đồng nghiệp của cha em, thường gọi em là “đứa con của sa mạc”.
Khi đang đi học, thỉnh thoảng, trong những dịp nghỉ hè hay nghỉ lễ, em lại được cùng với cha hoặc
ông Rôlixơn tham gia các chuyến đi công vụ của họ từ Port Xaiđơ đến tận Xuê để kiểm tra công việc
trên bờ kênh cùng việc nạo vét lòng kênh. Em quen hết thảy mọi người, từ các kĩ sư và nhân viên thuế

quan, đến công nhân, những người Ả Rập và người da đen. Em “lùng sục” khắp nơi mọi chốn, tại bất
cứ nơi nào đặt chân tới, và dần dần tiến hành những chuyến đi dài dọc theo bờ kênh, đi thuyền trên hồ
Mendalê và nhiều lần bơi thuyền ra khá xa.Em đã từng vượt sang phía bờ Ả Rập, và nhảy đại lên lưng
một con ngựa của ai đó, hoặc nếu thiếu ngựa thì lạc đà hay thậm chí cả lừa cũ ng được, đóng vai một
tay kị sĩ dũng cảm của sa mạc. Tóm lại, nói như ông Tarcôpxki, em “chui rúc” khắ p mọi nơi, và hễ
rảnh rỗi một chút ngoài giờ học là lại lần ngay ra bờ nước.
Người cha không ngăn cản chuyện đó, vì ông hiểu rằng, việc chèo thuyền, cưỡi ngựa và sự tiếp xúc
thường xuyên với không khí trong lành sẽ củng cố thêm sức khoẻ của đứa trẻ, đồng thời phát triển tính
tháo vát của nó. Xtas cao và khoẻ hơn nhiều so với những đứa trẻ cùng tuổi, và chỉ cần nhìn vào cặp
mắt cậu bé cũng có thể dễ dàng đoán được rằng, nếu lâm vào một chuyện hiểm nguy nào đó thì chắc
hẳn cậu bé sẽ dễ phạm sai lầm do quá hăng hái hơn là vì khiếp sợ. Mới mười bốn tuổi đầu, em đã là
một trong những tay bơi lội giỏi nhất ở Port Xaiđơ, điều này không phải là chuyện xoàng,bởi dân Ả
Rập và người da đen vốn bơi lội giỏi như cá. Trong khi nhả đạn vào lũ vịt trời và ngỗng trời Ai Cập
bằng khẩu súng săn cỡ nhỏ, cậu bé đã rèn luyện cho mình có được cánh tay và con mắt bắn trăm phát
trăm trúng. Em ước ao một ngày nào đó sẽ được đi săn các loài thú lớn ở Trung Phi, háo hức lắng
nghe chuyện những người Xuđan làm thuê ở vùng kênh đào, những người này đã từng gặp thú dữ và
bọn thú da dầy khổng lồ tại quê hương họ.
Điều này còn có thêm một cái lợi nữa là vừa nghe chuyện, cậu bé vừa học được ngôn ngữ của họ.
Kênh đào Xuê không những chỉ đào thông là xong mà còn đòi hỏi phải thường xuyên chăm lo tu sửa, vì
nếu không thì chỉ trong vòng một năm thôi, cát từ các sa mạc nằm dọc hai bờ kênh sẽ lấp biến nó đi.
Cái công trình khổng lồ này của ông Lécxép(5) kéo theo một sự lao động liên tục và đòi hỏi phải
thường xuyên cảnh giác. Do vậy, cho tới nay, có hàng loạt máy móc khổng lồ cùng hàng nghìn công
nhân, dướ i sự giá m sát của các kĩ sư thành thạo công việc, lao động nạo nét lòng kênh. Để đào thông
con kênh này đã từng phải dùng tới sức của hai mươi lăm nghìn người lao động. Giờ đây, khi công
trình đã hoàn thành và lại được trang bị những máy móc hoàn thiện hơn, thì cần ít người hơn hẳn so
với trước kia, song số lượng nhân công cho đến nay vẫn còn rất lớn. Trong đó, đại đa số là cư dân
trong vùng, cũng không thiếu mặt dân Nubia, Xuđan, Xômali cùng nhiều dân tộc da đen khác sinh sống
ở vùng sông Nin Trắ ng và sông Nin Xanh, nghĩa là trong những vùng thuộc phạm vi cai trị của chính
phủ Ai Cập, trước khi nổ ra cuộc khởi loạn của Mahơđi. Xtas sống thân mật với mọi người và cũng
giống như những người dân Ba Lan khác, vốn sẵn có năng khiếu ngoại ngữ, em nắm được nhiều thứ thổ
ngữ của họ mà chính bản thân em cũng không rõ từ khi nào và tại làm sao nữa. Sinhtrưởng ở Ai Cập,
em nói tiếng Ả Rập như một Người Ả Rập chính cống. Nhờ có những người Dandiba thường được
thuê làm thợ đốt lò phục vụ các thứ máy móc, em học được tiếng Kixvahili, thứ tiếng rất phổ biến
trong toàn bộ miền Trung Phi, thậm chí em có thể trò chuyện với những người da đen Đinnếch và
Sinlúc sinh sống ở vùng hạ lưu sông Nin, phía dưới Phasôđa(4). Ngoài ra, em nói thạo tiếng Anh,

tiếng Pháp và tiếng Ba Lan, vì cha em một người yêu nước nhiệt thành, rất quan tâm đến chuyện làm
sao cho cậu bé nói được tiếng nói quê hương. Dĩ nhiên, Xtas coi tiếng Ba Lan là thứ ngôn ngữ hay
nhất trên thế giới, và cậu bé đã dạy cho bé Nen nói tiếng Ba Lan với không ít thành công. Có điều em
không làm sao dạy cho cô bé phát âm được đúng tên em là Xtas chứ không phải “Xtex”. Cũng chính vì
lí do đó mà đôi khi giữa hai đứa trẻ xảy ra chuyện bất hoà, song những chuyện bất hoà đó cũng chỉ kéo
dài cho tới khi cặp mắt cô bé bắt đầu long lanh những giọt lệ mà thôi. Và khi ấy, “Xtex” bèn xin lỗi,
đồng thời thường tự giận mình.
Song cậu bé có một thói quen xấu là hay tỏ vẻ khinh thường khi nói về chuyện Nen mới lên tám và
so sánh điều đó với tuổi tác và kinh nghiệm sống của bản thân mình. Em cho rằng một thiếu niên mười
bốn tuổi, dẫu vẫn chưa hoàn toàn là người lớn, nhưng đã không còn là trẻ con nữa, và đã có khả năng
thực hiện được mọi hành động anh hùng, đặc biệt là khi thiếu niên ấy mang trong mình dòng máu Ba
Lan hoà dòng máu Pháp. Em khao khát một lúc nào đó sẽ có hoàn cảnh để thực hiện những hành động
anh hùng như thế, nhất là để bảo vệ Nen. Cả hai thường tưởng tượng ra đủ mọi loại hiểm nguy khác
nhau, và Xtas thường phải trả lời các câu hỏi của Nen xem em sẽ làm gì, nếu như nói thí dụ - một con
cá sấu dài mười mét, hoặc một con bọ cạp to bằng con chó bò qua cửa sổ vào nhà cô bé. Song cả hai
không một phút nào ngờ được rằng, chẳng bao lâu nữa, thực tế kinh khủng sẽ vượt xa mọi điều tưởng
tượng của chúng.
-----------------------------1 Kênh đào Xuê là một trong những kênh đào quan trọng nhấtthế giới. Kênh ở Đông Bắc Ai Cập,
nối thông Địa Trung Hải với Hồng Hải. Dài 160 km. Các hải cảng chính ở hai đầu kênh là PortXaiđơ
và Xuê. Được xây dựng trong khoảng 1859-1869 dưới sự chủ trì của viện sĩ người Pháp Ph.M.
Lecxép (ND)
2 Pasa (hay Basa): tước hiệu vương hầu ở các nước Trung Đông.
3 Emia: chức thủ lĩnh quân sự ở các nước Trung Đông.
4 Năm 1863, nhân dân Ba Lan khởi nghĩa chống lại sự thống trị của bọn Nga hoàng.
Cuộc khởi nghĩa bắt đầu từ tháng Giêng năm 1863 và kéo dài đến mùa thu năm 1864.
5 M.Lecxép (1805-1894): nhà ngoại giao và doanh nghiệp người Pháp - viện sĩ Viện Hàn lâm
khoa học Pháp, người tổ chức đàokênh Xuê (1859-1869). Ông cũng là người tổ chức đào kênh
Panama (1879-1889) và chính vì việc này mà ông bị phá sản.
6 Phasôđa (nay là Côđốc) - thành phố ở Xuđan.

TRÊN SA MẠC VÀ TRONG RỪNG THẲM
Henryk Sienkiewicz
Chương 2:
Trong bữa cơm, có một tin vui chờ đón hai đứa trẻ. Vài tuần trước đây, hai ông Tarcôpxki và
Rôlixơn, với tư cách là những kĩ sư lành nghề, được mời đến xem xét và đánh giá công việc trên toàn
bộ mạng kênh rạch ở tỉnh En Phaium, trong vùng lân cận thành phố Mêđinét gần hồ Carôun, cũng như
vù ng dọc theo sông Duxép và sông Nin. Họ sẽ ở lại đó chừng một tháng và đã được công ti của họ
cho nghỉ phép để làm việc đó. Vì lễ Thiên Chúa giáng sinh sắp tới, mà cả hai đều không muốn chia tay
với bọn trẻ, nên họ quyết định rằng cả Nen lẫn Xtas sẽ đi tới Mêđinét. Nghe tin này, bọn trẻ suý t nhảy
vọt lên vì vui sướng. Cho tới nay, chúng chỉ mới được biết các thành phố nằm dọc kênh đào, đó là
Izmailơ và Xuê, còn ngoài vùng kênh là các thành phố Alécxanđria và Cairô. Chúng cũng đã được
tham quan các kim tự tháp khổng lồ và tượng con Nhân sư ở gần thành phố Cairô. Song đó chỉ toàn là
những chuyến đi ngắ n ngủi, trong khi đó, muốn tới được Mêđinét En Phaium, chúng sẽ phải ngồi tàu
hoả suốt cả một ngà y trời dọc theo sông Nin về phía Nam, rồi sau đó, từ En Vaxta trở đi, rẽ về phía
Tây, về phía sa mạc Libi. Xtas đã được nghe nói về thành phố Mêđinét qua câu chuyện của các kĩ sư
trẻ và các du khách từng được đi tới đó để săn bắn các loài chim nước cùng chó sói sa mạc và linh
cẩu. Em biết rằng đó là một ốc đảo lớn nằm ở hữu ngạn sông Nin, nhưng không chịu ảnh hưởng của
các trận lụt do con sóng này gây ra, mà có thuỷ hệ riêng, được tạo nên bởi hồ Carôun, sông Bahơrơ
Duxép, cùng cả một hệ thống kênh rạch nhỏ khác nữa. Những người từng thấy cái ốc đảo này đều nói
rằng mặc dù vùng đất này vẫ n thuộc về Ai Cập, nhưng do bị ngăn cách bởi sa mạc, nên nó tạo thành
một chỉnh thể biệt lập hoàn toàn. Chỉ có riêng dòng sông Duxép, trông giống như một sợi dây mỏng
mảnh màu xanh lơ là mối liên hệ giữa vùng này với thung lũng sông Nin. Sự dồi dào về nước, độ phì
nhiêu của đất và sự phong phú tuyệt vời của hệ thực vật đã khiến cho vùng này gần như trở thành một
thiên đường trên mặt đất, còn những di tích trải trên một diện tích rộng lớn của thành phố
Crôcôđilôpôlix thì thu hút hàng trăm du khách tới đây viếng thăm. Riêng Xtas thì chủ yếu là bị hấp dẫn
bởi bờ hồ Carôun đầy các loài chim nước và những chuyến đi săn chó sói trong vùng đồi núi hoang
mạc Guêben En Xêđơmên.
T
Nhưng mãi mấy ngày nữa bọn trẻ mới bắt đầu được nghỉ lễ, mà sự kiểm tra công việc ở vùng kênh
lại khẩn cấp, khiến các ông bố không thể chờ đợi mất thì giờ, nên họ bèn sắp xế p rằng họ sẽ khởi hành
ngay, còn bọn trẻ sẽ cùng với cô Oliviơ xuất phát sau một tuần lễ. Cả Nen lẫn Xtas đều muốn được cù
ng đi ngay, nhưng Xtas không dám đề nghị. Cả hai liền bắt đầu hỏi han đủ mọi thứ chuyện liên quan tới
chuyến đi, và chúng lại náo nức vui sướng một lần nữa khi được biết rằng, chúng sẽ không phải nghỉ

ngơi trong các khách sạn thiếu thốn tiện nghi của người Hy Lạp, mà sẽ nghỉ trong những chiếc lều do
Hội du lịch của Cúc(1) cung cấp. Các du khách từ Cairô đến thăm Mêđinét, thậm chí dù họ có lưu lại
đó một thời gian dài đi nữa, cũng thường sống theo cách đó. Công ti Cúc cung cấp cho họ lều trại,
người phục vụ, lương thực dự trữ, lừa ngựa, lạc đà cùng người dẫn đường, nên du khách chẳng hề phải
lo nghĩ chuyện gì cả. Quả tình đó là một phương thức du lịch khá tốn kém, nhưng ông Tarcôpxki và ông
Rôlixơn không cần phải quan tâm tới chuyện đó, vì mọi chi phí sẽ do chính phủ Ai Cập đài thọ, chính
phủ này đã mời họ tới đánh giá và kiểm tra công việc tại vùng kênh, với tư cách là những chuyên gia
giỏi. Cô bé Nen vốn thích cưỡi lạc đà hơn tất cả mọi chuyện khác trên đời, nên được cha hứa rằng sẽ
được nhận riêng một con tuấn mã có bướu, trên đó cô bé sẽ cùng với cô Oliviơ, bà Đina, hoặc thỉnh
thoảng cùng với Xtas, tham gia vào những chuyến đi chơi trong những vùng sa mạc lân cận và tới
Carôun. Ông Tarcôpxki hứa với Xtas rằng sẽ cho phép em đi săn chó sói ban đêm, và nếu như em
mang được chứng chỉ học tập giỏi từ trường về, thì sẽ được thưởng một khẩu súng săn Anh chính hiệu,
cùng với mọi thứ đồ nghề cần thiết cho thợ săn. Vì Xtas hoàn toàn tin chắc vào kết quả học tập của bản
thân, nên ngay lập tức em bắt đầu tự cho mình đã là chủ nhân của một khẩu súng săn và tự nhủ sẽ dùng
khẩu súng ấy thực hiện biết bao kì công để đời đời được ghi nhớ.
Với lũ trẻ đang vui mừng, bữa ăn trôi qua trong những dự kiến và những câu chuyện như vậy. Riêng
cô Oliviơ tỏ ra tương đối ít nhiệt tình nhất với chuyến đi, bởi cô ngại phải rời xa cái biệt thự đầy đủ
tiện nghi ở Port Xaiđơ này; cô kinh hoàng khi nghĩ tới chuyện sẽ phải sống hàng mấy tuần trong lều, và
nhất là chuyện cưỡi lạc đà. Cô đã được thưởng thức vài lần các chuyến đi kiểu ấy, điều mà bất cứ
người dân châu Âu nào sống ở Ai Cập cũng đều làm thử vì tò mò. Song bao giờ các chuyến đi ấy cũng
bị kết thúc chẳng mỹ mãn chút nào. Một lần, con lạc đà đứng lên sớm quá, khi cô chưa kịp ngồi vững
trên bành, kết quả là cô bị tuột từ trên lưng nó xuống đất. Một lần khác, một chú lạc đà một bướu, hẳn
không thuộc loại dễ khiến, đã lắc cô đến nỗi hai ngày sau cô vẫn chưa hoàn hồn. Tóm lại, nếu như
Nen, sau vài chuyến được ông Rôlixơn cho phép đi như thế, cam đoan rằng trên đời này không có gì
sướng hơn là việc cưỡi lạc đà, thì cô Oliviơ lại chỉ nhớ toàn những ấn tượng khó chịu mà thôi. Cô bảo
rằng chuyện đó có thể là tốt đối với người Ả Rập, hoặc đối với một “cái kẹo” bé bỏng như Nen, cô bé
bị lắc chẳng đáng là bao, chẳng khác nào một chú ruồi đỗ lên bướu lạc đà, song chẳng thích hợp chút
nào đối với những người có tuổi, chẳng nhẹ nhàng gì, mà lại có xu hướng dễ bị say sóng. Còn nếu nói
về Mêđinét En Phaium thì cô lại còn có thêm những lo lắng khác nữa. Ở Port Xaiđơ cũng như ở
Alécxanđria, Cairô và trên toàn Ai Cập, người ta chẳng bàn tán gì khác hơn ngoài chuyện khởi loạn
của Mahơđi và sự tàn ác của bọn phiến loạn. Cô Oliviơ không biết chính xác thành phố Mêđinét nằm
ở đâu, nên cô lo ngại, không hiểu nó có nằm quá gần bọn Mahơđi hay chăng, và thế là cô bèn hỏi ông
Rôlixơn điều đó.
Song ông chỉ mỉm cười và nói:
- Hiện nay Mahơđi đang bao vây thành phố Kháctum, trong đó tướng Goócđôn đang cố thủ. Cô có

biết Mêđinét cách Kháctum bao xa không?
- Tôi chẳng có khái niệm gì về chuyện đó cả.
- Cũng xấp xỉ bằng từ đây tới đảo Xixin vậy, ông Tarcôpxki giải thích.
- Vâng, gần bằng. - Xtas khẳng định. - Kháctumnằm tại điểm mà sông Nin Trắng và Xanh hoà vào
nhau tạo thành một dòng chung. Từ chỗ chúng ta tới đó còn cách cả một khoảng không gian mênh mông
của đất Ai Cập và toàn bộ miền Nubia.
Tiếp đó em còn muốn thêm rằng dù cho Mêđinét có nằm gần vùng khởi loạn đi chăng nữa, thì đã có
em tại đó với khẩu súng của mình, nhưng em chợt nhớ lại rằ ng đã nhiều lần bị cha quở mắng vì những
lời huênh hoang tương tự, nên vội nín lặng.
Hai ông bố lại bắt đầu nói sang chuyện Mahơđi và cuộc khởi loạn, vì đó là vấn đề quan trọng bậc
nhất có quan hệ tới Ai Cập.
Tin tức từ Kháctumđưa về rất xấu. Đã từ một tháng rưỡi nay, những bộ tộc man rợ bao vây chặt
thành phố này, chính phủ Ai Cập và chính phủ Anh thì phản ứng rất chậm chạp. Mãi đến bây giờ đạo
viện binh giải vây mới vừa lên đườ ng, và người ta e rằng, mặc dù có áng vinh quang, lòng can trường
và năng lực của tướng Goócđôn, song thành phố quan trọng này sẽ bị lọt vào tay bọn dã man mất. Ông
Tarcôpxki cũng có ý kiến như thế, ông ngờ rằng, Anh quốc thầm mong sao Mahơđi chiếm lấy Xuđan
của Ai Cập để rồi sau đó họ sẽ chiếm lại miền đất này từ tay Mahơđi, và biến miền đất mênh mông
này thành tài sản nước Anh. Song ông không trao đổi với ông Rôlixơn những điều nghi ngờ ấy, vì
không muốn xú c phạm đến những tình cảm ái quốc của bạn.
Gần cuối bữa ăn, Xtas hỏi tại sao chính phủ Ai Cập lại chiếm cứ tất cả các nước nằm về phía
NamNubia là Coócđôphan, Đácphua và Xuđan cho đến tận Anbéc Nianđa, và tước đoạt quyền tự do
của dân cư những miền đất đó. Ông Rôlixơn quyết định giải thích cho cậu bé: tất cả những gì mà chính
phủ Ai Cập làm đều là thực hiện theo chỉ thị củ a Anh quốc, bởi nước Anh đang nắm quyền bảo hộ Ai
Cập và về thực chất thì đang thống trị nước này một cách tuỳ ý.
- Chính phủ Ai Cập không tước đoạt tự do của bất cứ một ai cả, - ông nói, - mà ngược lại, còn
mang lại tự do cho hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu người. Trong thời gian gần đây, ở
Coócđôphan,ở Đácphua và Xuđan không có một quốc gia độc lập nào tồn tại cả. Chỉ thảng hoặc ở nơi
này nơi nọ, một tiểu thủ lĩnh nào đó dùng bạo lực áp đặt chính quyền của mình sang một miền đất khác
và chiếm đoạt vùng đất ấy, không thèm để ý tới nguyện vọng của các cư dân địa phương. Còn trên đại
thể, những miền này quần tụ các bộ tộc độc lập của người Ả Rập pha da đen, nghĩa là những bộ tộc
mang trong mình dòng máu của cả hai chủng người đó. Các bộ tộc này luôn luôn sống trong tình trạng

chiến tranh liên miên. Họ tấn công nhau, cướp của nhau ngựa,lạc đà, súc vật có sừng và trước hết là
nô lệ. Đồng thời họ phạm không biết bao nhiêu điều tàn bạo. Nhưng tệ hại nhất là bọn thương gia săn
ngà voi và săn nô lệ. Chúng gần như tạo thành một giai cấp riêng biệt, bao gồm hầu hết các tộc trưởng
và những thương nhân giàu có.
Chúng tiến hành những cuộc săn lùng có vũ trang vào sâu trong lục địa Phi châu, cướp đi ngà voi
và bắt sống hàng nghìn người, cả đàn ông, đàn bà, trẻ con. Chúng triệt phá các làng mạ c và trại ấp,
phá hoại đồng ruộng, khiến máu chảy thành sông và giết hại không thương tiếc tất cả những ai muốn
chống cự lại. Nhiều vùng ở miền nam Xuđan, Đácphua và Coócđôphan cũng như vùng thượng nguồn
sông Nin cho tới tận hồ lớn, không còn một bóng người. Song bọn cướp Ả Rập này mỗi ngày tiến thêm
một xa, đến nỗi cả vùng Trung Phi trở thành vùng đất của máu và nước mắt.
Anh quốc, như cháu biết, vốn săn đuổi bọn thương nhân buôn bán nô lệ trên toàn thế giới, bèn đồng
ý để chính phủ Ai Cập chiếm Coócđôphan, Đácphua và Xuđan, đó là cách duy nhất buộc lũ cướp phải
từ bỏ cuộc buôn bán bẩn thỉu ấy đi, là cách duy nhất để giữ chúng trong vòng kiềm toả. Những người
da đen bất hạnh thở phào nhẹ nhõm, những cuộc tấn công ăn cướp lắng dần, và người ta bắt đầu được
sống có luật lệ. Dĩ nhiên tình hình ấy khiến bọn lái buôn không thoả mãn. Vậy nên, khi mà trong số
chúng nó có tên Môhamét Áchmét, bây giờ được gọi là Mahơđi, tên này bắt đầu kêu gào phát động
một cuộc chiến tranh tôn giáo về hình thức, lấy cớ rằng tại Ai Cập lòng tin vào đức Môhamét đang bị
suy giảm, thì tất cả bọn chúng đều cầm lấy vũ khí. Và thế là bùng nổ cuộc chiến tranh khủng khiếp này,
cuộc chiến tranh mà cho tới nay rất bất lợi cho người Ai Cập. Trong tất cả các trận chiến đấu, Mahơđi
đều đánh bại quân chính phủ, chiếm Coócđôphan, Đácphua, Xuđan; hiện nay, các bộ tộc của hắn đang
vây hãm Kháctum và tiến về phía Bắc tới tận biên giới Nubia.
- Nhưng liệu hắn có tiến được tới Ai Cập không ạ? - Xtas hỏi.
- Không, - ông Rôlixơn trả lời, - Mahơđi quả có nói rằng, hắn sẽ đánh chiếm toàn thế giới, song đó
chỉ là một con người mông muội, không hiểu gì cả. Hắn sẽ không bao giờ chiếm được Ai Cập vì Anh
quốc không khi nào cho phép chuyện đó xảy ra.
- Thế nếu như quân đội Ai Cập hoàn toàn tan rã thì sao?
- Khi đó quân đội Anh sẽ thay, mà quân đội Anhthì chưa từng có ai thắng nổi bao giờ.
- Thế tại sao người Anh lại cho phép Mahơđichiếm ngần ấy nước?
- Sao cháu biết là Anh quốc cho phép? - ÔngRôlixơn nói. - Anh quốc chẳng bao giờ phải vội vã
cả, bởi Anh quốc là quốc gia vĩnh cửu.

Câu chuyện bị gián đoạn bởi một người đầy tớ da đen vào báo rằng mụ Phátma Xmainơ tới và cầu
xin được vào gặp.
Phụ nữ phương Đông thường chỉ chăm lo việc nội trợ và rất ít khi rời khỏi “buồng the”. Chỉ những
người nghèo mới ra chợ hoặc đi làm đồng, thí dụ như vợ của các fellach, tức là những nông dân Ai
Cập, nhưng cả những người này cũng che mặt khi ra đường.
Mặc dù mụ Phátma gốc người Xuđan, tại đó người ta không theo phong tục này, hơn nữa, trước đây
cũng đã từng có lần mụ tới văn phòng ông Rôlixơn rồi, xong việc mụ đến đây, nhất là vào lúc đêm hôm
thế này và lại tới nhà riêng, cũng gây nên một sự ngạc nhiên.
- Chúng ta sẽ được biết điều mới về gã Xmainơđây, - ông Tarcôpxki nói.
- Phải, - ông Rôlixơn đáp lại, đồng thời đưa tay ra hiệu cho người hầu dẫn mụ Phátma vào.
Lát sau một phụ nữ Xuđan còn trẻ, người cao dong dỏng, mặt hoàn toàn không che mạ ng, với nước
da rất sẫm màu, cặp mắt tuyệt đẹp, tuy hơi man dại và dữ tợn, bước vào. Vừa vào, mụ đã sụp mặt
xuống đất, và khi ông Rôlixơn bảo mụ đứng dậy thì mụ chỉ ngẩng mặt lên nhưng vẫn tiếp tục quỳ.
- Thưa ngài, - mụ nói, - cầ...
 
Gửi ý kiến

Những quyển sách làm say mê ta đến tận tủy, chúng nói chuyện với ta, cho ta những lời khuyên và liên kết với ta bởi một tình thân thật sống động và nhịp nhàng. (H.Godefroy)